Đạo luật về trách nhiệm pháp lý, bồi thường và phản ứng toàn diện về môi trường (CERCLA) hay còn được công chúng biết đến là chương trình Superfund được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngày 11 tháng 12 năm 1980. Theo CERCLA, Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) có quyền phản ứng trực tiếp đối với nguy cơ phát tán chất thải nguy hại hoặc khi chất thải nguy hại đã bị phát tán và đe dọa gây nguy hiểm cho môi trường cũng như sức khỏe của cộng đồng.

Chương trình Superfund đã thiết lập các quy định liên quan đến những vùng bị ô nhiễm và đưa ra khung trách nhiệm pháp lý cho các cá nhân lẫn doanh nghiệp có liên quan. Kinh phí dọn dẹp các vùng ô nhiễm bị bỏ hoang và các khu vực chứa chất thải nguy hại không thể kiểm soát này được lấy từ nguồn thuế của Chính Phủ Hoa Kỳ, họ đánh thuế các ngành như Hóa chất và Dầu Khí – hai ngành gây nhiều ô nhiễm nhất với thời gian lên tới 5 năm. Khoản thu 1.6 tỷ $ từ thuế đã giúp Superfund có nguồn ngân sách cho hoạt động dọn dẹp, xử lý các khu vực bị ô nhiễm.

Các văn bản pháp luật sau này như Đạo luật sửa đổi và ủy quyền lại Superfund (SARA) ra đời năm 1986 đã nhấn mạnh sự cần thiết của các giải pháp lâu dài và mang tính sáng tạo trong việc khắc phục các khu vực ô nhiễm bằng cách cung cấp các phương án xử lí cho các bên liên quan và chính phủ. SARA cũng đảm bảo rằng CERCLA phù hợp với các tiêu chuẩn và yêu cầu pháp lý về môi trường của liên bang, số lượng tiểu bang tham gia chương trình Superfund cũng tăng lên nhanh chóng sau đó.

Hệ thống đánh giá và xếp hạng mức độ nguy hiểm giờ đây được SARA sửa đổi và tập trung vào các vấn đề liên quan đến sức khỏe con người ở vùng diễn ra ô nhiễm. SARA cũng bổ sung vào quỹ Superfund 8.5 tỷ $ nhằm hỗ trợ việc dọn dẹp.

Thời gian đầu, nhiều nỗ lực cải tổ lập pháp đã hướng tới việc giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn trách nhiệm cho các doanh nghiệp nhỏ bị ảnh hưởng bởi CERCLA. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, việc dọn dẹp các vùng ô nhiễm khá tốn kém và pháp luật về môi trường cũng gia tăng mức phạt khiến các doanh nghiệp lớn phải tập trung cải tổ để tránh bị phạt và phải khắc phục hậu quả gây ra cho môi trường. Thật bất ngờ là khi rà soát lại, EPA phát hiện ra rằng các doanh nghiệp nhỏ lại là những doanh nghiệp gây ra mức ô nhiễm nghiêm trọng nhất.

Các bên có khả năng phải chịu trách nhiệm (PRPS)

Trách nhiệm đối với hành vi gây ô nhiễm được CERCLA quy cho các cá nhân hoặc
nhóm có liên quan, gọi chung là “Các bên có khả năng phải chịu trách nhiệm”. Những pháp nhân này bao gồm chủ sở hữu hoặc người điều hành hiện tại của vùng xảy ra ô nhiễm; chủ sở hữu hoặc người điều hành trong thời gian xảy ra ô nhiễm hoặc sau đó; các doanh nghiệp, cá nhân chịu trách nhiệm xử lý và vận chuyển chất thải; các bên chịu trách nhiệm bán hoặc cho thuê tài sản.

Tác động của luật này có thể khiến các doanh nghiệp nhỏ bị thiệt hại nghiêm trọng. Về cơ bản, nếu một khu vực bị phát hiện ô nhiễm thì chủ sở hữu, nhà điều hành và các bên khác có quyền liên quan sẽ chịu trách nhiệm liên đới về chi phí dọn dẹp môi trường. Chủ sở hữu/Nhà điều hành hiện tại của khu vực đó cũng phải chịu trách nhiệm dù khu vực đã bị ô nhiễm từ thời chủ trước và họ không hay biết gì về việc ô nhiễm.

Do đó, việc thẩm định bất động sản nên được tiến hành ngay trước khi mua. Việc này sẽ giúp bảo vệ người mua không phải chịu trách nhiệm nếu khu đất ấy bị ô nhiễm. Để được CERCLA miễn trừ trách nhiệm, chủ sở hữu hiện tại phải chứng minh rằng họ không biết và không có lý do cần thiết để tìm hiểu về vấn đề này tại thời điểm mua bất động sản.

Vì có quá nhiều rủi ro, việc thuê chuyên gia thẩm định bất động sản có thể hữu ích nhưng nó cũng không đảm bảo rằng bạn đủ điều kiện được miễn trừ nếu CERCLA phát hiện ra bất động sản bạn vừa mua bị ô nhiễm.

Đánh giá khu vực môi trường

Đánh giá khu vực môi trường (ESA) được thực hiện bởi một doanh nghiệp kiểm toán môi trường và có thể đảm bảo rằng bất động sản bạn mua không bị ô nhiễm. Khi kiểm toán sẽ có hai hình thức đánh giá khu vực môi trường.

Đánh giá khu vực môi trường luôn là bước quan trọng nhất (Ảnh : Unsplash)

Bước đầu tiên được gọi là kiểm định môi trường giai đoạn I (ESA Phase I) – doanh nghiệp kiểm toán sẽ kiểm tra các hồ sơ công cộng như ảnh chụp từ trên không, tài liệu EPA và các tài liệu công khai khác của bất động sản để xác định xem khu vực này trước đó có các hoạt động sản xuất hay lưu trữ hóa chất nguy hiểm và có thể gây ô nhiễm hay không. Nếu bất kỳ dữ liệu nào được tìm thấy trong khâu kiểm định khu vực môi trường giai đoạn I có vấn đề thì khâu kiểm định môi trường giai đoạn II sẽ được tiến hành.

Trong khâu kiểm định môi trường giai đoạn II (ESA phase II), doanh nghiệp tư vấn môi trường sẽ lấy mẫu đất và các loại mẫu liên quan ở khu vực đánh giá. Việc phân loại mẫu và vị trí của các mẫu được xác định từ thông tin tìm thấy ở khâu đánh giá khu vực môi trường giai đoạn I. Đánh giá khu vực môi trường (chủ yếu là giai đoạn I) của bất động sản thế chấp thường được yêu cầu bởi các ngân hàng khi doanh nghiệp sở hữu bất động sản tìm cách vay vốn của ngân hàng.

Điều này xảy ra là vì việc khắc phục phần ô nhiễm sẽ làm giảm giá trị của bất động sản một cách nghiêm trọng. Tùy thuộc vào tổ chức cho vay nhưng việc đánh giá thường được yêu cầu với khoản vay lớn, thông thường là khi khoản vay có giá trị trên 500.000 $.

Theo Cục quản lý doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ, chi phí đánh giá khu vực môi trường giai
đoạn I có thể tốn từ 1.000 $ và tăng dần lên theo quy mô của bất động sản cũng như chi tiết của bản đánh giá. Kể từ khi việc đánh giá này được coi là một khoản đầu tư quan trọng, những chủ doanh nghiệp bắt đầu trả tiền để doanh nghiệp của họ được đảm bảo là một doanh nghiệp có uy tín. Hãy tìm một doanh nghiệp tư vấn môi trường với hồ sơ năng lực đã được chứng minh cũng như kinh nghiệm đánh giá khu vực môi trường thực tế của họ, hãy chắc chắn rằng bạn đảm bảo được một trong hai thứ đó.

Tinh thần trách nhiệm

Điều gì sẽ xảy ra nếu một doanh nghiệp sở hữu một bất động sản đã bị ô nhiễm hoặc mua nhầm bất động sản mà sau này phát hiện là bị ô nhiễm? Theo CERCLA, trách nhiệm dọn dẹp vùng ô nhiễm là rất khó tránh. Trách nhiệm pháp lý của CERCLA rất nghiêm ngặt nếu xét cả về chi tiết lẫn tổng thể, nếu việc tìm kiếm các bên có khả năng phải chịu trách nhiệm (PRP) nằm trong số hạng mục được CERCLA thiết lập, họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với tất cả chi phí liên quan đến việc dọn dẹp khu vực bị ô nhiễm.

Theo ông Martin McCrory của Tạp chí Luật doanh nghiệp Hoa Kỳ, các bên liên quan phải chịu trách nhiệm chung hoặc mỗi người chịu trách nhiệm riêng về toàn bộ số thiệt hại gây ra.

Hành động phản hồi hoặc dọn dẹp khu vực ô nhiễm

Theo CERCLA, Chính phủ có hai loại phản ứng khác nhau đối với việc ô nhiễm hình
thành trong tương lai :

  • Phản ứng đầu tiên là loại bỏ sự ô nhiễm trong ngắn hạn. Vì là trường hợp khẩn cấp, EPA ngay lập tức có hành động ngăn chặn hoặc loại bỏ các chất thải gây nguy hiểm đến môi trường, thời gian thường dưới một năm và chi phí thấp hơn 2 triệu $.
  • Phản ứng thứ hai là khắc phục sự ô nhiễm trong lâu dài, EPA khi đó sẽ có các hành động làm giảm sự nguy hiểm liên quan tới ô nhiễm hoặc các mối đe dọa ô nhiễm xuống mức tối thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn, vĩnh viễn. Mang ý nghĩa khắc phục toàn diện nên phản ứng này thường tốn nhiều năm, chi phí trung bình là 30 triệu $ cho mỗi vùng ô nhiễm. Phản ứng này chỉ được triển khai cho các địa điểm được liệt kê tại Danh sách ưu tiên quốc gia của EPA (các địa điểm có tỷ lệ nguy hiểm cao nhất trên Hệ thống xếp hạng mức độ nguy hiểm)

Trước khi bắt đầu, EPA sẽ tiến hành điều tra khắc phục và nghiên cứu khả thi (RI/FS) tại vùng ô nhiễm để xác định mức độ ô nhiễm cũng như quyết định phương pháp loại bỏ hoặc trung hòa các chất thải nguy hiểm. Phần điều tra khắc phục sẽ thu thập thông tin cần thiết để hiểu bản chất cũng như mức độ ô nhiễm tại hiện trường. Hoạt động này sẽ mô tả các rủi ro môi trường gây ra bởi ô nhiễm và mục tiêu khắc phục. Thông tin có được từ việc điều tra khắc phục sẽ được khâu nghiên cứu khả thi dùng để phát triển các phương pháp khắc phục cho vùng ô nhiễm.

Cuối cùng, cả hai việc này này sẽ là cơ sở cho Bản ghi quyết định (ROD) đánh giá và chọn ra phương pháp phù hợp nhất. Thông thường, đề xuất dọn dẹp sẽ được phân loại theo các biện pháp riêng biệt để giải quyết các vấn đề khác nhau ở vùng bị ô nhiễm. Các bên có trách nhiệm liên quan (PRP) có thể sắp xếp với EPA để tự mình khắc phục tất cả hoặc một phần ô nhiễm. Những doanh nghiệp này cũng có thể thỏa thuận với EPA về việc thanh toán cho RI/FS hoặc thanh toán cho việc loại bỏ ô nhiễm.

Trong một số trường hợp, các bên có khả năng phải chịu trách nhiệm (PRP) có thể đơn phương thực hiện việc dọn dẹp vùng bị ô nhiễm thay vì thanh toán cho EPA. Tuy nhiên họ cần lưu ý rằng việc tự giải quyết phần ô nhiễm chưa chắc đã bảo vệ họ khỏi trách nhiệm pháp lý trong tương lai. Để tránh phải chịu trách nhiệm pháp lý, kiện tụng và khâu khắc phục tốn kém, phương pháp tốt nhất là phòng tránh từ sớm.

Khi mua bất động sản, một doanh nghiệp nên làm việc với các các chuyên gia để họ đánh giá bất động sản một cách kỹ lưỡng. Các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến chất thải nguy hại nên có biện pháp phòng ngừa. Một bản kế hoạch xử lý môi trường là rất quan trọng. Một doanh nghiệp cần phải xác định những quy định liên quan, xây dựng một kế hoạch toàn diện để xử lý chất thải nguy hại và làm việc chặt chẽ với chính quyền địa phương khi cần thiết.

EPA đã thiết lập đường dây điện thoại miễn phí để hỗ trợ về các vấn đề liên quan đến chất thải nguy hại: Đường dây nóng RCRA / Superfund. Người gọi có thể nhận được thông tin về việc lưu trữ và thủ tục vận chuyển, nhà thầu địa phương và các cơ quan chính phủ, các thông tin khác liên quan đến chất thải nguy hại. Các thông tin này có sẵn trên trang web của EPA.

Nếu phát hiện ô nhiễm, hành động quan trọng nhất mà doanh nghiệp có thể thực hiện là tham gia vào quy trình khắc phục và chịu trách nhiệm thay vì để EPA tự tiến hành quá trình khắc phục.

Dịch thuật & Biên tập : Bùi Minh Tuấn | Nguồn : Reference for Business

Gửi phản hồi