I. GDP là gì?

Đã tìm hiểu về kinh tế thị trường thì ai cũng phải hiểu về khái niệm GDP. Được rút gọn từ Gross Domestic Product, GDP là giá trị thị trường của tổng sản phẩm quốc nội hoặc tổng sản phẩm nội địa của một quốc gia bất kỳ và được thống kê theo từng năm.

Cần lưu ý là giá trị này bao gồm tất cả những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, nên dù là người nước ngoài hay người trong nước thì cũng đều tính vào GDP.

Lấy ví dụ: Nếu một doanh nghiệp Châu Âu đến Việt Nam để đầu tư sản xuất giày dép, quần áo may mặc thì giá trị hàng hóa họ sản xuất cũng được tính vào GDP dù họ là doanh nghiệp nước ngoài và do người nước ngoài làm chủ.

  • Lịch sử của khái niệm GDP

Ngược dòng lịch sử về lần đầu tiên khái niệm GDP ra mắt, đó là vào thế kỷ 17 khi William Petty (người đặt nền móng cho trường phái Kinh tế chính trị cổ điển ở Anh) cần một khái niệm để chống lại việc đánh thuế đầy bất công của các chủ đất trong cuộc chiến tranh giữa Anh và Hà Lan những năm 1654 – 1676, và khái niệm GDP cơ bản từ đó ra đời.

Sau đó Charles Davenant (một nhà kinh tế, chính trị gia và nhà viết sách người Anh) đã tiếp tục phát triển phương pháp này vào năm 1695. Năm 1934, Simon Kuznets (một nhà kinh tế Mỹ gốc Nga) đã phát triển và đưa ra khái niệm GDP hiện đại mà chúng ta vẫn dùng cho đến tận ngày nay. Cần lưu ý là khi đó, hệ thống đo lường ưu việt nhất từng được biết đến vẫn là Tổng sản phẩm quốc dân (GNP).

Mười năm sau, khi hội nghị Bretton Woods kết thúc thì cũng là lúc GDP được áp dụng rộng rãi thành một phương tiện tiêu chuẩn để đo lường kinh tế của các quốc gia trên thế giới.

  • Công thức tính GDP hiện hành

Hiện nay có ba phương pháp chính được dùng để tính GDP là phương pháp chi tiêu, phương pháp thu nhậpphương pháp giá trị gia tăng

  • Phương pháp chi tiêu

Đối với phương pháp chi tiêu, tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia là tổng số tiền mà người dân trong quốc gia đó sử dụng để mua hàng hóa cộng với xuất khẩu ròng của quốc gia đó sang quốc gia khác. 

Phương pháp tính chi tiêu GDP
Công thức tính GDP theo phương pháp chi tiêu.
  • Phương pháp thu nhập

Đối với phương pháp thu nhập (còn được gọi là phương pháp chi phí) thì GDP bằng tổng thu nhập của người dân trong quốc gia đó bao gồm tiền lương, tiền lãi, lợi nhuận và tiền thuế. 

Công thức tính GDP theo thương pháp thu nhập
Công thức tính GDP theo thương pháp thu nhập
  • Phương pháp giá trị gia tăng

Đối với phương pháp giá trị gia tăng thì chúng ta có ba công thức tùy vào việc tính giá trị gia tăng của doanh nghiệp (VA), giá trị gia tăng thêm của một ngành (GO) và giá trị gia tăng thêm của nền kinh tế (GDP)

Công thức tính GDP theo phương pháp giá trị gia tăng
Công thức tính GDP theo phương pháp giá trị gia tăng
  • Ý nghĩa của chỉ số GDP

Thông thường, khi một nhà đầu tư muốn đầu tư ra nước ngoài thì họ sẽ xem xét quốc gia đó có vấn đề gì liên quan đến kinh tế chính trị, văn hóa hay thậm chí là cả lịch sử để tránh gặp các vấn đề ảnh hưởng về sau. Trong số đó, các chỉ số kinh tế được đánh giá rất kỹ đặc biệt là GDP, thông thường một nhà đầu tư sẽ xem xét nhiều quốc gia một lúc trước khi “chọn mặt gửi vàng”.

GDP được xem là chỉ số đo lường “sức khỏe” của một nền kinh tế. Khi một nền kinh tế ở trạng thái sung sức thì nó biểu hiện ở việc tỉ lệ người thất nghiệp giảm, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê thêm nhiều lao động, mức lương của người lao động cũng theo đà tăng lên và sức mua hàng hóa vì vậy cũng được đẩy lên cao. Nhà đầu tư sẽ chú ý rất nhiều đến trạng thái của một nền kinh tế để quyết định đầu tư, nếu sức mua hàng hóa cao và doanh nghiệp liên tục mở rộng sản xuất thì lượng tiền các nhà đầu tư đổ vào sẽ nhiều lên nhanh chóng.

Đây cũng là một chỉ số được dùng để đánh giá trên các diễn đàn kinh tế thế giới mà đặc biệt là chuyện Thặng dư thương mại và Thâm hụt thương mại. Trong kinh tế, chỉ số GDP tăng khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu vượt tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu (Còn được gọi là Thặng dư thương mại) và nếu tổng giá trị nhập khẩu vượt tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu (Còn được gọi là Thâm hụt thương mại) thì GDP sẽ giảm. Trong nửa đầu năm 2019, cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng có nguồn cơn trực tiếp từ cán cân thương mại của hai bên.

Nếu GDP có mức tăng trưởng âm trong hai hoặc nhiều quý liên tiếp thì đó là biểu hiện của một cuộc suy thoái. Khi có dấu hiệu của một cuộc suy thoái sắp diễn ra hoặc đang diễn ra thì các nhà kinh tế học và nhà hoạch định chính sách thường sẽ có một số động thái nhằm cứu vãn như in thêm tiền hoặc giảm lãi suất để kích thích nền kinh tế và giúp chỉ số GDP bình thường trở lại.

II. Khái niệm GDP danh nghĩa và GDP thực tế

  • GDP danh nghĩa là gì? Công thức tính GDP danh nghĩa

GDP danh nghĩa (Nominal GDP) là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ tính theo thời giá hiện hành, hoặc có thể hiểu là tổng lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá của lượng hàng hóa và dịch vụ ấy trong cùng năm đó. 

Công thức tính GDP danh nghĩa: 

công thức tính GDP danh nghĩa
Công thức tính GDP danh nghĩa được xác định như sau.
  • GDP thực tế là gì? Công thức tính GDP thực tế

GDP thực tế (Real GDP) là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ hiện hành của nền kinh tế được tính theo mức giá cố định của năm cơ sở (năm gốc), hoặc có thể hiểu là tổng lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá cố định của chúng trong năm gốc.

Công thức tính GDP thực tế:

Công thức tính GDP thực tế
Công thức tính GDP thực tế được xác định như sau.
  • Khi nào sử dụng GDP danh nghĩa (Nominal GDP) và GDP thực tế (Real GDP)?

Trên thực tế, khi thấy GDP danh nghĩa tăng từ năm này qua năm khác thì chưa thể kết luận được là mức giá đã tăng hay do sản lượng hàng hóa, dịch vụ tăng. Nhưng nếu thấy GDP thực tế tăng thì có thể lập tức khẳng định rằng sản lượng hàng hóa và dịch vụ đã tăng lên (vì mức giá cố định không thay đổi). Do đó khi so sánh kết quả sản xuất của một nền kinh tế thì người ta thường dùng chỉ tiêu GDP thực tế. 

Khi so sánh quan hệ tài chính, so sánh kết quả hoạt động của các nền kinh tế với nhau hoặc của các địa phương, các ngành trong cùng một nền kinh tế thì chỉ số GDP danh nghĩa được khuyên dùng nhiều nhất. Tuy nhiên khi so sánh GDP qua từng năm hoạt động và đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lại phải dùng GDP thực tế

Ví dụ minh họa về việc sử dụng GDP danh nghĩa (GDPn) để so sánh các nền kinh tế với nhau:

Ví dụ về việc sử dụng GDP danh nghĩa/GDP thực tế
Ví dụ về việc sử dụng GDP danh nghĩa/GDP thực tế để so sánh các nền kinh tế.

Ví dụ minh họa về việc sử dụng GDP thực tế (GDPr) để so sánh các nền kinh tế với nhau:

Ví dụ minh họa về sử dụng GDP thực tế để so sánh
Ví dụ về việc sử dụng GDP danh nghĩa/thực tế để so sánh cơ cấu hiện vật.
  • Tại sao lạm phát luôn là yếu tố song song với tăng trưởng GDP?

Thông thường khi nhắc đến sự tăng trưởng GDP thì các chuyên gia kinh tế cũng nhắc thêm về yếu tố lạm phát, vì GDP là tổng sản phẩm quốc nội nên nếu GDP tăng thì hoặc là lượng sản xuất tăng lên với cùng mức giá, hoặc là giá thành đã cao hơn và lượng sản xuất không đổi,…Dù là nguyên nhân nào đi nữa thì thường là vào năm kịch bản sau đây:

Trường hợp 1: Sản xuất nhiều hơn nhưng mức giá thành không thay đổi

Ở trường hợp này, nhu cầu gia tăng nên doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu khiến tỉ lệ thất nghiệp giảm, mức tiền lương tăng và người tiêu dùng nhờ có thêm tiền nên lại chi tiêu thoải mái hơn và thúc đẩy nhu cầu. Nhu cầu tăng, chi tiêu tăng nên GDP vì vậy mà gia tăng theo. Nhưng cũng vì nhu cầu tăng lên nên mức giá thành cũng theo đà, thành ra lạm phát.

Trường hợp 2: Mức sản xuất không đổi nhưng giá thành tăng lên

Ở trường hợp này nhu cầu của người tiêu dùng không thay đổi nhưng chi phí sản xuất gia tăng nên giá thành cũng theo đó tăng lên. Giá cả hàng hóa tăng khiến GDP và lạm phát cùng tăng lên một lúc.

Trường hợp 3: Sản xuất nhiều hơn và mức giá thành tăng lên cùng lúc

Ở trường hợp này nhu cầu của người tiêu dùng tăng nhưng nguồn cung lại bị giới hạn khiến doanh nghiệp phải thuê nhiều nhân viên hơn, tăng lương để thu hút và mở rộng hoạt động sản xuất. Nhu cầu tăng nhanh chóng nhưng nguồn cung không đáp ứng kịp khiến giá thành tăng. Đây là trường hợp điển hình khi GDP và lạm phát tăng nhưng ở tốc độ không bền vững.

Trường hợp 4: Sản xuất nhiều hơn nhưng mức giá thành lại giảm đi

Đây là một trường hợp hiếm gặp và chưa từng xảy ra ở các nền kinh tế dân chủ hiện đại.

Trường hợp 5: Sản xuất ít hơn nhưng giá thành lại tăng lên

Sản xuất ít hơn khiến GDP tăng chậm hơn so với chỉ số dự đoán, tỷ lệ thất nghiệp tăng nhưng giá thành cao khiến lạm phát tăng theo.

III. Khái niệm GDP per capita (GDP đầu người – PPP)

GDP per capita còn được biết đến với cái tên GDP đầu người (PPP) là một chỉ số quan trọng giúp phản ánh kết quả sản xuất tính theo bình quân đầu người trong thời gian một năm. Nó có thể được tính theo giá thực tế (bằng nội tệ và cả ngoại tệ) hoặc tính theo giá so sánh (nếu tính tốc độ tăng). Đây là chỉ số quan trọng giúp đánh giá năng lực sản xuất của một quốc gia và sự phát triển kinh tế theo thời gian của quốc gia đó trên thế giới.

GDP đầu người được tính bằng cách lấy tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chia cho toàn bộ dân số của một quốc gia. Chỉ số này cũng được xem là thước đo mức sống của một quốc gia. Vào năm 2018 Việt Nam có quy mô GDP đạt 240,5 tỷ USD (tính theo giá hiện hành) và bình quân GDP đầu người ở mức 2.540 USD, tăng 155 USD so với năm 2017 và 325 USD so với năm 2016, đạt tỷ lệ tăng bình quân 6,8% trong khoảng hai thập kỷ vừa qua.

Thông thường, GDP per capita dễ bị nhầm lẫn nếu so sánh với chỉ số Income per capita tức Thu nhập bình quân đầu người. Khác với chỉ số GDP là kết quả sản xuất tính theo bình quân đầu người, IPC lại là chỉ số giúp đánh giá mức sống, sự phân hóa giàu nghèo và tỷ lệ người nghèo nhằm làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách công. Ở Việt Nam, chỉ số này được Tổng cục thống kê điều tra định kỳ 2 năm/lần và tính toán dựa trên cơ sở cuộc khảo sát mức sống dân cư hộ gia đình.

IV. Phân biệt hai khái niệm GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) và GNP (Tổng sản phẩm quốc dân)

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã được giải thích đầy đủ phía trên, nhưng khái niệm Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thì không phải ai cũng thực sự biết. Đây là từ viết tắt của Gross National Product tức tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra và được đo lường trong một năm tài chính. Khác với chỉ số GDP, chỉ số GNP tính cả những cá nhân làm việc ở nước ngoài. 

Một số bạn mới đầu không hiểu ý nghĩa của từ “Sản phẩm cuối cùng”. Đây là từ ám chỉ những sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ cuối cùng bởi người tiêu dùng chứ không phải những sản phẩm được dùng trong khâu sản xuất trung gian. Một chiếc vỏ xe, ruột xe mới nếu bán cho nhà máy để sản xuất xe thì sẽ được xem là sản phẩm trung gian còn nếu bán cho người tiêu dùng để thay vỏ, thay ruột thì sẽ được xem là sản phẩm cuối cùng.

  • Công thức tính GNP (Tổng sản phẩm quốc dân)

Chỉ số GNP (Tổng sản phẩm quốc dân) được tính bằng công thức sau:

Công thức tính tổng sản phẩm quốc dân GNP
Công thức tính tổng sản phẩm quốc dân GNP
  • Sự khác biệt giữa GNP và GDP

Khi thế giới ngày càng hội nhập với nhau và câu chuyện “Thế giới phẳng” càng lúc càng được xem trọng, GNP đã từng lúc thay thế GDP trở thành một chỉ số tin cậy vì khác với GDP chỉ đánh giá trong phạm vi một quốc gia, GNP lại đánh giá chúng ở mức độ toàn cầu và cho dù người dân ở đâu thì thu nhập cũng được ghi lại cả.

Tùy thuộc vào tình hình của một quốc gia mà GDP của họ sẽ cao GNP hoặc thấp hơn GNP. Hai biểu tượng rõ ràng nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, một bên chuyên đi đầu tư khắp thế giới và một bên liên tục tiếp nhận đầu tư nước ngoài.

GDP của Trung Quốc từng có thời điểm cao hơn GNP của họ cũng vì lượng công ty nước ngoài đến đầu tư sản xuất quá nhiều, trong khi với Hoa Kỳ thì GNP lại cao hơn GDP vì công dân nước họ đem tiền đi đầu tư tại các nước khác nhiều hơn.

Minh Tuấn

Gửi phản hồi